1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT:
Nội dung bài 5 bao gồm các yếu tố của truyền thông không lời được sử dụng trong giao tiếp như giao tiếp bằng mắt, bằng ngôn ngữ thân thể, qua giọng nói, không gian, môi trường văn hóa xã hội, qua sự im lặng, thời gian, đụng chạm...; 5 bước để tạo ấn tượng trong giao tiếp không lời và kim chỉ nam để hiểu ngôn ngữ của cơ thể.
2. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT SAU KHI HỌC XONG BÀI 5:
Sau khi học xong bài 5 bạn có thể nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp không lời vì nó chiếm một tỷ lệ quan trọng trong truyền thông, nắm vững các ý nghĩa của các yếu tố trong ngôn ngữ không lời để tăng cường kỹ năng quan sát và hiểu nhiều hơn tâm trạng bên trong của đối tượng giao tiếp và ý thức nhiều hơn về các cử chỉ vô thức của mình khi giao tiếp.
3. HƯỚNG DẪN HỌC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BÀI 5:
Khi học bài 5, bạn lưu ý về các yếu tố không lời, nhận thức về kỹ năng chú ý quan sát của mình về ngôn ngữ không lời của đối tượng giao tiếp mà trước đây chúng ta ít chú ý mà chỉ quan tâm đến ngôn ngữ có lời. Bạn cũng cần chú ý nhiều hơn về các cử chỉ của mình khi giao tiếp vì nó thường được sử dụng theo
82
thói quen có thể làm cho người khác hiểu lầm hoặc khó chịu.
NỘI DUNG BÀI HỌC 5
1. GIAO TIẾP KHÔNG LỜI:
Giá trị thật sự của giao tiếp không lời là cho thấy một cách sâu sắc thái độ, tư tưởng, cảm xúc. Con người có khả năng đọc được những tín hiệu không lời theo trực giác (cảm thụ), qua các giác quan. Trong một buổi họp, nếu có một thành viên tham dự bổng ngồi ngả lưng vào ghế dựa và khoanh tay lại một cách đột ngột thì ta có thể hiểu ngay là đã có chuyện rắc rối. Cử chỉ biểu đạt nhiều sắc thái khác nhau, hàm chứa những ẩn ý về tâm lý. S. Freud có nói: "Không ai giữ được bí mật cả. Nếu miệng không nói thì ngón tay, ngón chân cũng động đậy. ".Thường con người thể hiện ngôn ngữ không lời một cách vô thức.
Việc đáp ứng hợp lý cho một số cách diễn đạt phi ngôn ngữ và cử chỉ thông dụng có thể tạo điều kiện cho việc giao tiếp và giúp phát triển mối quan hệ với người khác. Việc quan sát những hành vi không lời của người khác có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quan trọng có liên quan đến những thông điệp của họ và hiểu được những thông điệp này là một điều quan trọng của một sự giao tiếp tốt. Các yếu tố của giao tiếp không lời bao gồm:
•
Giao tiếp bằng mắt
•
Ngôn ngữ thân thể
•
Giao tiếp bằng ngôn ngữ cử chỉ
•
Giọng nói và tốc độ nói
•
Khoảng cách, sử dụng không gian
•
Thời gian.
•
Sự im lặng
•
Trang phục
•
Đụng chạm
2. GIAO TIẾP BẰNG MẮT
Khi nhìn sự vật, sự kiện, hoặc con người khi giao tiếp, chúng ta có cảm xúc thoải mái hoặc khó chịu, nhưng chúng ta ít lưu ý về việc chúng ta sử dụng giác quan. Chúng ta có khuynh hướng thích nhìn những gì chúng ta thích và muốn tránh né những gì ta không thích.. Mối quan hệ giữa thông tin nhận được - do thấy, do ý thức hoặc không ý thức) và suy nghĩ phát sinh lúc đó. Cảm xúc thường phát sinh khi chúng ta nhìn hoặc bị nhìn. Vấn đề là chúng ta cần ghi nhận cảm tưởng, động cơ phát sinh khi nhìn và bị nhìn.
Chúng ta nhìn một người mà ta thích khác với cách chúng ta nhìn người mà chúng ta ghét. Một người sợ ánh mắt của người khác có thể bắt nguồn từ quá khứ của người ấy lúc con bé rất sợ ánh mắt của người cha chỉ nhìn trừng trừng mình khi mình bị trừng phạt, bị đánh đòn.
Mắt diễn tả cái nhìn yêu thương, nhìn kinh miệt, nhìn giận dữ, nhìn gian xảo, nhìn cởi mở, quan tâm, nhìn đe dọa, nhìn chỗ khác (lẩn tránh, khó chịu). Trên khuôn mặt, đôi mắt bộc lộ rõ nhất suy tư, tình cảm, thái độ với khách quan bên ngoài: “Người khôn con mắt đen sì, người dại con mắt nửa chì nửa thau” hay “Con lợn mắt trắng thì nuôi, những người mắt trắng đánh hoài đuổi đi”. Theo nhận xét của các cụ, người có
con mắt như vậy phước phận bạc bẽo. Còn kiểu mắt thì không biết các cụ có đúng không khi nói “Những người ti hí mắt lươn, trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người” hoặc “Đàn bà con mắt lá dăm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.” Thực ra, chỉ đôi mắt không thôi đâu có thể tạo nên một con người tốt, xấu.
3. NGÔN NGỮ THÂN THỂ.
Có 6 loại diễn tả của thân thể:
-
Theo biểu tượng nhằm để thay thế lời nói như vẫy tay tạm biệt, gãi đầu, để ngón trỏ lên môi…
-
Để minh họa, kèm theo lời nói và có tác dụng nhấn mạnh như nói "vâng" kèm theo gật đầu…
-
Để khuyến khích như gật đầu khi nghe người khác nói.
-
Để thích nghi như lúc kềm chế cảm xúc, thường hay di chuyển đồ vật loanh quanh, vuốt cằm, che mắt…
-
Để biểu lộ tâm trạng xúc động như nói ngập ngừng, hơi thở nhanh, tay run, trán đổ mồ hôi…
-
Theo dáng điệu và cử chỉ: cách đi đứng, ngồi, nét mặt ...
•
Gương mặt là nơi diễn tả cảm xúc: giận, vui, buồn, kinh ngạc, sợ, ngại... và cũng là nơi để có thể đánh giá con người. Các cụ ngày xưa có nói” trông mặt mà bắt hình dong” hay “người khôn dồn ra mặt, què quặt hiện ra chân tay”. Da mặt cũng nói lên sức khỏe của con người ra sao.
•
Môi và miệng: bĩu môi, cười chế nhạo, cắn môi dưới, tay che miệng. Ngoài ra, người xưa xem tướng mạo có nhận xét: "Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà”.
•
Lông mày: nhướng mày biểu lộ không hiểu, không tin, chào bạn bè, chấp nhận.
•
Trán: nhăn trán cau mày thể hiện sự lúng túng, lo lắng, giận dữ.
•
Lưỡi: le lưỡi thể hiện sự thiếu tôn kính, liếm môi khi bị căng thẳng, lúng túng.
•
Đầu: gật và lắc đầu, đầu thẳng là có thái độ trung lập, đầu nghiêng một bên thể hiện sự quan tâm, cuối đầu là quy phục, phủ định, vỗ đầu chứng tỏ mình tự phạt, có lỗi.
•
Bàn tay: lòng bàn tay để mở chứng tỏ sự lương thiện, lòng trung thực, lòng bàn tay hướng xuống khi ra lệnh, cách bắt tay, ngón cái thể hiện quả quyết, khẳng định.
-
Hai bàn tay xoắn vào nhau chứng tỏ đối tượng rơi vào trạng thái tình cảm lẫn lộn khó xác định.
-
Hai bàn tay nắm vào nhau tức là đối tượng sẵn sàng chiến đấu. hai tay mà đút vào túi quần tạo nên một chướng ngại với người nói chuyện vì họ không cảm nhận được ý của anh ta ra sao.
-
Khi trò chuyện, nếu người kia đặt bàn tay vào má tức là những điều bạn nói được họ rất quan tâm.
-
Hai tay chống nạnh biểu hiện thái độ sẵn sàng đối phó.
-
Khi một người xoa nhanh hai tay vào nhau chứng tỏ họ thỏa mãn, khi hai tay đặt thành hình mái nhà, ngón tay chạm vào nhau là họ đã hoàn toàn tự tin vào bản thân có thể giải quyết được vấn đề đặt ra.
-
Động tác của ngón tay trỏ mang tính ép buộc người khác phải nghe theo, đồng thời chứng tỏ sự khinh rẻ đối tượng.
-
Tư thế ngồi cũng chứng tỏ nhiều trạng thái tinh thần của
chúng ta. Người nào ngồi mớm mép ghế là người không muốn ngồi lâu, ngồi tựa lưng vào thành ghế là người muốn kết thúc sớm buổi họp, người ngồi nghiêng về phía trước là đang chú ý lắng nghe và đang muốn phát biểu.
-
Cử chỉ thay đổi ý nghĩa trong những nền văn hóa khác nhau: ở Đức, nói chuyện với ai mà thọc hai tay vào túi là dấu hiệu bất kính; ở Hi Lạp, gật đầu có nghĩa là “không”; ở Ấn Độ, bàn tay trái bị coi là bẩn; ở Úc, dấu hiệu xin đi nhờ xe của người Mỹ là thô tục; ở Anh vỗ lưng là không đúng phép lịch sự, cũng như bắt tay rối rít ở Pháp vậy.
4. GIỌNG NÓI:
Những tín hiệu âm thanh đi kèm lời nói góp phần rất lớn trong việc truyền thông những cảm xúc. Giọng nói cho biết ta là ai, tâm trạng ta đang có. Khi ta nghe giọng nói người khác, ta nắm bắt được ngoài thông điệp có lời những thông điệp khác không lời (âm thanh, nhịp độ, do dự, từ được dùng, …qua đó ta đoán được tâm trạng, ý muốn, văn hóa, giá trị…).
Nhờ giọng nói, chúng ta có thể truyền cho người khác lòng nhiệt thành, niềm tin, nỗi khắc khoải, tính khẩn trương, sự thanh thản…
Có thể phân loại:
-
Loại định tính (độ cao, tốc độ, âm lượng): giọng đều đều khi buồn chán, ngắn gọn, cộc lốc, âm sắc lớn khi tức giận.
-
Loại lấp đầy: dùng từ đệm một cách vô nghĩa (úm, à, ờ…) cho thấy tình trạng căng thẳng, bối rối.
-
Loại định phẩm: giọng khàn khàn được xem là dấu hiệu
của sự khêu gợi, hấp dẫn. Giọng trầm đồng nghĩa với thành thật, đáng tin cậy (thường cho tham gia quảng cáo).
-
Tiếng nói của con người cũng toát lên tính khí và số phận: “Đàn bà lanh lảnh tiếng đồng, một là sát chồng hai là hại con”. Kể ra tất cả đều không phải như vậy, đàn bà tiếng lanh lảnh thường tháo vát lo toan, mà người hay làm hay lo lại thường là người khổ.
5. SỬ DỤNG KHÔNG GIAN (KHOẢNG CÁCH):
Mỗi người kiểm soát không gian chung quanh mình và truyền thông diễn ra trong 4 khoảng cách khác nhau sau đây:
-
Khoảng cách thân mật: từ 0 - 5 cm (người thân, tình nhân). Khoảng cách này chỉ được phép xâm phạm khi người khác có quyền lực hơn ta hoặc khi mối quan hệ giữa đôi bên trở nên thân thiện. Nam giới chú ý đến khoảng cách này nhiều hơn nữ giới vì khoảng cách ấy tượng trưng cho quyền lực.
-
Khoảng cách cá nhân: từ 50 cm - 1,2 m (quan tâm, chú ý, bạn bè, cùng địa vị). Đây là khoảng cách cẩn thận theo bản năng trong lúc xã giao, những buổi tiệc tùng, gặp mặt hay hội hè.
-
Khoảng cách xã hội: từ 1,2 m - 3,6 m (giao tiếp thương mại, người lạ). Chúng ta giữ khoảng cách này với những người không thân thiết khi xã giao.
-
Khoảng cách công cộng: hơn 3,6 m (giao tiếp ở nơi công cộng, với người xa lạ hoàn toàn và đây là phạm vi được các chính khách ưa thích).
Người ở nông thôn thường có khoảng cách cá nhân rộng hơn người ở thành thị. Không gian có những tác động tâm lý bình tĩnh hay mất bình tĩnh (khi công an hỏi cung đối tượng nghi vấn
thường ở nơi chật hẹp nhằm buộc đối tượng lộ ra sơ hở của mình).
6. MÔI TRƯỜNG:
Môi trường văn hoá xã hội: chúng ta thường ăn mặc vì người khác, chúng ta tránh những điều cấm kỵ, cách bày trí đồ đạc, màu sắc, ánh sáng, nhiệt độ, mùi… ảnh hưởng nhiều đến hành vi con người.
7. SỰ IM LẶNG:
Sự im lặng có thể biểu hiện nhiều trạng thái khác nhau, nên dễ gây hiểu lầm: im lặng là kính trọng (trẻ - người cao tuổi), im lặng là phản kháng, là đồng tình, là tình thương, sự tôn trọng, lòng thấu cảm, nhưng cũng là thù địch, ruồng bỏ hay trừng phạt. Người phương Tây không thích người khác im lặng khi giao tiếp.
8. THỜI GIAN:
Cách người ta sử dụng thời gian cho chúng ta biết nhiều điều về họ: đi sớm, đi trễ, đi đúng giờ, sự chờ đợi, thời điểm phù hợp hay không phù hợp cho truyền thông hiệu quả. Chúng ta sử dụng thời gian như thế nào trong lúc đi phỏng vấn xin việc làm, khi đi dự tiệc, khi chúng ta có địa vị.
9. ĐỤNG CHẠM:
Đụng chạm trong quan hệ giao tiếp có ý nghĩa như sự đón nhận, an ủi, sự trìu mến, gây hấn, xúc phạm.
Đụng chạm chứng tỏ sự hiện hữu và sự đồng hành. Đụng chạm là một cử chỉ quan trọng: người chấp nhận sự đụng chạm tức là chấp nhận sự quan tâm, đón nhận sự thân mật. Chúng ta có
khi ghi nhớ mãi một sự đụng chạm nào đó trong những khoảnh khắc của cuộc đời. Đụng chạm còn có ý nghĩa rất quan trọng trong trị liệu tâm lý.
Đụng chạm thường được sử dụng như là phương cách bày tỏ cảm xúc khi lời không nói được. Nhưng nếu đụng vào một phần thân thể của người khác vào một thời điểm không thích hợp, phản ứng sẽ mang tính tiêu cực. Tuy nhiên, nếu ai đó vỗ nhẹ bình thường vào người bạn kèm theo một câu khen ngợi thì có lẽ bạn sẽ đón nhận nó như một hành động tích cực.
Liều lượng của sự đụng chạm thay đổi do nhiều yếu tố: Giới tính, tuổi, văn hóa, môi trường, trạng thái, sự thân mật, sự cố ý, quyền lực và địa vị, sự cấp thiết.
10. NĂM BƯỚC ĐỂ TẠO ẤN TƯỢNG ĐẦU TIÊN TRONG GIAO TIẾP KHÔNG LỜI:
Hãy thử áp dụng những điều sau đây để tạo ấn tượng đẹp ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên:
•
Bắt tay: Dù bạn bắt tay với nam hay nữ, thì cái bắt tay của bạn phải thật chặt và chắc để chứng tỏ bạn thật lòng. Đừng quên nhìn thẳng vào mắt người đối diện.
•
Quần áo: Giày dép cũng rất quan trọng. Quần áo quá đẹp hay quá sờn cũ đều phản tác dụng vì đa phần các cuộc gặp là xã giao nên chỉ cần ăn mặc đúng mực.
•
Giao tiếp bằng mắt: Khi bạn gặp một người nào đó lần đầu tiên, hãy nhìn thẳng vào mắt họ. Không nhìn chăm chăm mà hãy nhìn nhau bằng những “tia nhìn ấm áp”, nếu không người đối diện sẽ nghĩ là bạn không quan tâm đến những gì họ nói.
-
Trò chuyện: Thông thường trong lần gặp đầu tiên, người ta hay có khuynh hướng hỏi thông tin về nhau, nhưng đừng biến buổi gặp thành một cuộc phỏng vấn. Nên dùng những câu hỏi gợi cho người đối diện bày tỏ ý kiến của họ và đừng quên tỏ dấu hiệu là bạn rất thích thú với những ý tưởng của người đối thoại.
•
Mỉm cười: Nếu bạn bắt đầu với một nụ cười, những việc tiếp theo sau đó sẽ diễn ra suôn sẻ. Hãy nhớ rằng những người khác cũng có thể nhút nhát như bạn, cũng mang theo họ những lo lắng, bồn chồn giống như bạn. Một nụ cười báo rằng bạn cảm thấy rất thoải mái và rất vui lòng trong cuộc gặp gỡ này.
Việc tạo ấn tượng tốt trong lần gặp đầu tiên là hoàn toàn nằm trong tầm tay bạn và một khởi đầu tốt đẹp chắc chắn sẽ mang lại những điều tốt lành theo sau đó.
11. KIM CHỈ NAM ĐỂ HIỂU NGÔN NGỮ CỦA CƠ THỂ:
-
Tập trung chú ý vào những đầu mối có lợi nhất: Chúng ta nhận thông tin về cảm xúc của người nói từ 6 nguồn:
•
Những từ đặc trưng
•
Âm thanh của giọng nói
•
Tốc độ nhanh của câu nói
•
Biểu hiện trên nét mặt
•
Dáng điệu
•
Cử chỉ
-
Hiểu những thông tin không lời trong bối cảnh xảy ra.
•
Không có cử chỉ nào tự nó có một ý nghĩa đặc trưng mà là một phần của một khuôn mẫu (như một từ trong một đoạn văn).
•
Mục đích để lắng nghe có hiệu quả là nhận những tín hiệu từ toàn thể người truyền đạt.
•
Ghi chú những điều không nhất quán nếu có giữa lời nói và cử chỉ.
-
Nhận thức được những cảm nghĩ và phản ứng cơ thể của chính mình.
Những phản ứng của chúng ta khích lệ người khác nói ra được cảm nghĩ về tình huống của họ.
4. MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý, GHI NHỚ KHI HỌC VÀ SAU KHI HỌC:
Sau khi học bài này, bạn cần ghi nhớ các điểm sau đây:
•
Giao tiếp không lời bao gồm nhiều yếu tố
•
Giọng nói là truyền thông không lời: Ví dụ:”Anh đi đi”, nếu nói giọng êm dịu, nhẹ nhàng thì thể hiện sự chăm sóc, còn nếu nói giọng đanh thép thì muốn anh đi cho khuất mắt.
•
Truyền thông bằng mắt và thân thể là quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp, tuy nhiên cũng cần chú ý đến các yếu tố khác.
•
Chú ý đến các bước gây ấn tượng đầu tiên khi giao tiếp không lời.
5. CÁC TÀI LIỆU CÓ THỂ THAM KHẢO THÊM:
1. Nguyễn Ngọc Lâm, Khoa học giao tiếp, Ban XB ĐHMBC Tp. HCM, 1998.
2. Nguyễn Thị Oanh, Tâm Lý Truyền Thông và Giao Tiếp, Khoa Phụ Nữ Học, Đại Học Mở Bán Công TP. HCM.,1993.
3. Nguyễn Thành Tống, Truyền Thông - Kỹ năng và phương tiện, Nhà xuất bản Trẻ, TP.HCM,1996.
4. R. Martin Chazin và Shela Berger Chazin, Hành vi con người và Môi trường xã hội, Nội dung tập huấn của ĐH Fordham, Khoa PNH., 1997.
5. Tài liệu tập huấn, Kỹ năng giao tiếp, Shatec, Singapore, 2000.
6. Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện, Tâm Lý học Đời sống, NXB KHXH, Hà Nội, 1994.
Erhard Thiel, Hành vi giao tiếp, Nhà XB Trẻ, 1996.
6. BÀI TẬP:
* Bài tập 1: Ngôn ngữ cử chỉ:
Bạn thử đánh dấu bên phải cử chỉ nào là tích cực hoặc tiêu cực theo cách hiểu của bạn
Ngôn ngữ cử chỉ Tích cực Tiêu cực
Nhắm mắt khi nói ------------ ------------
Mỉm cười ------------ ------------
Ngáp ------------ ------------
Cau mày ------------ ------------
Duy trì liên hệ bằng mắt ------------ ------------
Nhìn xuống khi đang nói chuyện ------------ ------------
Khoanh tay ------------ ------------
Ngã người về phía người nói ------------ ------------
Uể oải ------------ ------------
Thỉnh thoảng gật đầu ------------ ------------
Nhìn hướng khác khi người khác đang nói với mình ------------ ------------
Bắt tay chặt (nữ) ------------ ------------
Bắt tay chặt (nam) ------------ ------------
Gác chân lên bàn ------------ ------------
Nhai há miệng/ ợ hơi ------------ ------------
Vắt chéo chân ------------ ------------
Tay hoạt động khi nói ------------ ------------
Chỉ ngón tay ------------ ------------
Vỗ vai/ lưng ------------ ------------
* Bài tập 2: Nhìn khi giao tiếp
Bạn thử tưởng tượng tình huống hai người nhìn nhau trong lần gặp gỡ đầu tiên và bạn là một trong hai người đó: Một người nhìn người kia trong một khoảng thời gian (một phút), trong thời gian nhìn nhau, lúc nhìn và lúc bị nhìn, họ cố gắng ghi nhận cảm tưởng, cảm xúc khi nhìn và bị nhìn. Sau đó cả hai người nhắm mắt lại trong 5 phút, cố liên hệ sự kiện này có gợi cho mỗi người trải nghiệm nào không, có thể tích cực hoặc tiêu cực.
7. CÁC CÂU HỎI:
1. Nêu các yếu tố của truyền thông không lời.
2. Theo bạn, sự đụng chạm trong giao tiếp có ý nghĩa gì?
3. Để có thể hiểu được cảm xúc của người mà ta tiếp xúc thì ta phải làm gì?
4. Tại sao nam giới khó gần gũi với nhau so với nữ giới?
Hướng dẫn trả lời:
-
CÂU 1: Giao tiếp bằng mắt, ngôn ngữ thân thể, cử chỉ, giọng nói, khoảng cách, thời gian, sự im lặng, trang phục, đụng chạm.
-
CÂU 2: Có ý nghĩa đón nhận, an ủi, trìu mến, gây hấn, xúc phạm, hiện hữu và đồng hành, sự quan tâm và liều lượng đụng chạm thay đổi tùy theo một số yếu tố.
-
CÂU 3: Cần đối diện với người đó, nhìn vào mắt họ, quan sát các cử chỉ, lắng nghe giọng nói của họ, chú ý ngôn ngữ không lời có thể không khớp với ngôn ngữ thân thể.
-
CÂU 4: Nam giới khó gần nhau vì nam giới chú ý đến quyền lực nhiều hơn so với nữ giới. Nam giới có quyền lực thường hay xâm phạm vào khoảng cách an toàn của người khác khi giao tiếp.